Trung Tân Quán Bi Ký – Nguyễn Bỉnh Khiêm

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán: 阮秉謙; 1491–1585), tên huý là Văn Đạt (文達), tự là Hanh Phủ (亨甫), hiệu là Bạch Vân am cư sĩ (白雲庵居士), được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử (雪江夫子), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16.

Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều (Lê-Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, ông được phong tước “Trình Tuyền hầu” rồi thăng tới “Trình Quốc công” (程國公) mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình

Dưới thời phong kiến của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm văn nhân Nho gia điển hình (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận) được phong tới tước Công (‘Quận công’ hay ‘Quốc công’) ngay từ lúc còn sống. Trình Quốc công là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 20 năm trước khi ông mất.

Trung Tân Quán Bi ký là nội dung liên quan đến việc đặt tên Trung Tân Quán của ông

«Này xem, tính người vốn thiện, chỉ vì bị khí chất ràng buộc, bị vật dục che lấp, do đó tính thiện bản nhiên không được trọn vẹn như lúc trước; gian tà bỉ lận không một cái xấu gì mà không làm.

Khi ở triều đình thì tranh nhau về danh, khi ở chợ búa thì tranh nhau về lợi; khoe là sang thì lầu son, gác tía, khoe là giàu thì vũ tạ ca lâu; thấy ngoài đường có người chết đói, không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp; cánh đồng có người nằm sương, không chịu bỏ một nắm rạ ra che đậy.

Đó! đã nhiều người bỏ mất lòng từ thiện vậy! Nhưng còn may, lẽ phải vẫn còn ở trong lòng người ta, chưa đến nỗi mất hết. Cho nên các kỳ lão trong làng ta vẫn khuyến khích nhau làm điều thiện, nào là cầu, đập, chùa quán luôn luôn tu sửa…

…Ta đề vào biển ở cái quán ấy gọi là QUÁN TRUNG TÂN. Có người hỏi ta rằng: «Quán ấy đặt tên là Trung Tân có nghĩa gì?» Ta trả lời rằng: «Trung nghĩa là đứng giữa không thiên lệch, giữ vẹn được điều thiện là Trung, không giữ vẹn được điều thiện, thời không phải là Trung vậy. Tân có nghĩa là cái bến; biết chỗ đáng đậu là bến chính, không biết chỗ đáng đậu là bến mê vậy.

Đó, cái quán ta đặt tên Trung Tân chính là nghĩa vậy. Như trung với vua, hiếu với cha, mẹ, thuận giữa anh em, hoà giữa vợ chồng, tín giữa bạn bè, đó là Trung vậy. Thấy của phi nghĩa đừng có lòng tham, vui làm điều thiện, lại có độ lượng bao dung người khác, suy lòng chí thành để đối đãi với mọi người, đó cũng là Trung vậy. Trung ở chỗ nào tức là điều chí thiện ở chỗ ấy.

Nếu mọi người biết lấy Trung làm bến chính, giữ được đúng mức, thì mọi công việc trong thiên hạ cứ do đó mà thi thố ra để đi đến chỗ tận thiện, như vậy thì công đức tốt đẹp biết là nhường nào…»

Sưu tầm.

Share.

Tác giả

Nhất Tâm

Đời sương gió mãi vui cùng sương gió. Kiếp gió sương lại lăn lóc cùng với gió sương .. https://www.facebook.com/khoanglangmoingay/

Leave A Reply